Hiển thị các bài đăng có nhãn Kể Chuyện Cờ Tướng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kể Chuyện Cờ Tướng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 16 tháng 12, 2013

Ba thiên tài cờ tướng của Trung Quốc !, Câu chuyện vỉa hè




Hồ Vinh Hoa-Hứa Ngân Xuyên-Triệu Hâm Hâm

Dưới đây là bài viết đánh giá về các anh tài cờ tướng Trung Quốc đăng trên tạp chí Kỳ Nghệ tháng 1 năm 2008 (Tác giả : Nhạn Điểm Thanh Thiên) :

Từ năm 1956,khi giải vô địch cờ tướng quốc gia lần đầu tiên được tổ chức,tính đến nay đã qua hơn 40 năm tranh đấu,kỳ đàn Trung Quốc đã chứng kiến sự lên ngôi của 13 nhà vô địch khác nhau.Họ đều là những danh kỳ thủ xuất chúng nổi bật hơn cả giữa hàng nghìn,hàng vạn các kỳ thủ khắp Trung Hoa.Tuy nhiên thời gian thì dài và anh hùng không hiếm nhưng mới chỉ xuất hiện có 3 nhân vật thiếu niên nhờ vào tài năng kiệt xuất mà có được vinh quang tột đỉnh khi tuổi đời chưa đến đôi mươi.Thực là những bậc anh tài,thiên tư kỳ lạ vậy !

Người thứ nhất khi mới ở tuổi 15 sinh ở thành phố Thượng Hải tên là Hồ Vinh Hoa,người thứ 2 sinh ở huyện Huệ Lai tỉnh Quảng Đông tên là Hứa Ngân Xuyên,còn người thứ 3 mới đây nhất tên là Triệu Hâm Hâm sinh ở huyện Ôn Lĩnh tỉnh Chiết Giang năm nay 20 tuổi nhưng đã lên ngôi cách đó 1 năm khi tuổi đời mới 19 mà thôi.

Năm 1960,thiếu niên Hồ Vinh Hoa lần đầu tham chiến tại giải đấu quốc gia toàn quốc ngay tại trận thứ nhất đã phải đụng độ “Kỳ đàn thần đồng” của tỉnh Hồ Bắc là Lý Nghĩa Đình mà không hề thua kém.Trận thứ 2 đụng độ “Sát tượng minh vương” của tỉnh Liêu Ninh là Mạnh Lập Quốc đã chiến thắng vẻ vang,gây cơn chấn động đầu tiên trong làng cờ.Trận thứ 3 tiếp kiến “Thần Châu đệ nhất nhân” và cũng là tượng kỳ quốc thủ,Dương Quan Lân,đã đánh 1 trận xuất thần,trung tàn ghê gớm buộc họ Dương phải đầu hàng.Sau đó liên hồi gây ra sóng to gió lớn,cuối cùng ở trận cuối cùng (trận thứ 10) gặp “Lão tiên nhân” Lưu Ức Từ,bằng tài cao chí lớn đã xảo diệu điều binh lập nên đại nghiệp mở đầu thời kỳ Hồ Vinh Hoa thập liên bá chủ kéo dài mãi sau này.

Hứa Ngân Xuyên tham gia kỳ đàn trong lúc quần hùng cát cứ phân tranh.Năm 1991,khi mới 16 tuổi đã đoạt hạng 3 toàn quốc được giới cờ đặt cho biệt danh là Tiểu Ngân Xuyên.Năm 1992,hội ngộ Hồ Vinh Hoa,lĩnh hội ý tứ cho rằng sau này sẽ là kỳ vương Trung Quốc.Năm 1993,Thanh Đảo hội chiến,Tiểu Hứa đệ nhất kỳ phong giáp mặt hàng loạt các anh hùng bách chiến như “Đông phương điện não” Liễu Đại Hoa,”Yên Triệu kiêu tử” Lý Lai Quần,”Giang Nam tài tử” Từ Thiên Hồng,”Tân Đông Bắc Hổ” Triệu Quốc Vinh,”Dương Thành thiếu soái” Lữ Khâm mà không hề nao núng và đã đánh đến trận cuối cùng chiến thắng trước “Bố cục chuyên gia” Hà Bắc Diêm Văn Thanh để đắc vị đăng quang chính thức hoành không xuất thế.

Triệu Hâm Hâm,Tiểu bá vương miền Hoa Đông lại là hiện tượng mới của kỳ đàn Trung Quốc ngày nay.Bắt đầu nổi danh từ những năm đầu của thế kỷ mới.Năm 2002,Tiểu Triệu đoạt ngôi vô địch Trung Quốc ở độ tuổi thiếu niên.Năm 2004,khi mới 16 tuổi đã đứng hạng 6 Trung Quốc được phong Tượng kỳ đại sư.Năm 2006,trong cuộc hội chiến vinh danh Dương tiền bối lại đoạt được đệ nhất Dương Quan Lân Bôi trước rất nhiều hảo thủ.Năm 2007,tại giải Y Thái Bôi toàn quốc tổ chức ở Nội Mông Cổ,phong độ thăng hoa,liên hồi bách chiến,sau đó dùng đến tuyệt kỹ cờ nhanh loại bỏ cả Triệu Quốc Vinh và Lữ thiếu soái để một mình độc chiếm ngôi đầu,trở thành người thứ 13 trong lịch sử Trung Quốc từ trước đến nay có được vinh dự tối cao này.

Ba vị Hồ,Hứa,Triệu khi mới ở tuổi thiếu niên đã 3 lần gây lên chấn động,làm xôn xao toàn bộ giới cờ,quả thật đều khiến người ta kinh ngạc !

Sở dĩ như vậy vì cả 3 khi còn rất nhỏ đều được thừa hưởng niềm say mê đánh cờ từ gia đình,được cha mẹ dạy dỗ,truyền thụ sự hứng thú,đam mê với các quân cờ kỳ lạ,chính là gốc rễ cơ bản nhất để phát triển tài năng trở thành những anh tài tiếng tăm lừng lẫy khắp nước.Kỳ vương Hồ Vinh Hoa khi được các ký giả hỏi chuyện đều luôn nhắc đến sự truyền thụ những nước cờ đầu tiên của người cha khi ấy chỉ là 1 người công nhân bình thường ở bến Thượng Hải,còn như kỳ vương Hứa Ngân Xuyên thì may mắn hơn lúc còn ấu thơ được chính cha mình,1 người chơi cờ có tiếng ở địa phương tận tình dạy dỗ.Tân khoa Trạng nguyên Triệu Hâm Hâm thì xuất thân trong 1 gia đình doanh nhân ở Ôn Lĩnh,cha tuy bận bịu kinh doanh nhưng lại rất đam mê cờ tướng,sẵn sàng bỏ nhiều tiền của cho con học đánh cờ,sau này lại cho phép con theo nghiệp cờ với mong muốn trở thành người tài tiếng tăm nổi bật.

Để có thể trở thành những đại cao thủ như ngày nay thì cả 3 người Hồ,Hứa,Triệu đều không chỉ nhờ ở bản thân mà vẫn phải cần đến sự giúp đỡ,bồi đắp của các bậc danh sư,tài năng mới mãn thành và đạt được thành công như ý.Hồ Vinh Hoa thuở nhỏ theo học Đại Khánh tiên sinh được tập luyện bài bản mới có nhiều bước tiến sau này nhập tuyển lại được 2 lão danh thủ trứ danh toàn quốc là Hà Thuận An và Từ Thiên Lợi hết lòng đào tạo nên dù còn khá ít tuổi nhưng Hồ Vinh Hoa đã thông thạo rất nhiều chiêu thức cổ kim và lãnh hội đầy đủ tinh hoa của thế giới kỳ nghệ.Hứa Ngân Xuyên sau khi nhờ cha truyền thụ,võ công chỉ đủ để đoạt được quán quân nhi đồng sau chuyển sang theo học danh thủ Chương Hán Cường của Quảng Đông,nhờ thế kỳ nghệ mới ngày một tiến nhanh,đạt được thành công bước đầu,rồi khi 12 tuổi được nhận vào đội tuyển cờ tướng Quảng Đông có thêm sự huấn luyện nghiêm túc của các danh gia đương thời như Dương Quan Lân,Thái Phúc Như nên mới nhanh chóng thành tài và đảm đương trọng trách dành cho các kỳ thủ cao cấp nhất.Còn Hoa Đông tiểu tướng,Triệu Hâm Hâm khi còn 7,8 tuổi vốn đã là 1 thần đồng của huyện Ôn Lĩnh.Tiểu Triệu với danh hiệu Bách chiến hoan quân khi tham gia thi đấu ở tỉnh đều gặt hái vô số thành tích và để lại rất nhiều ấn tượng khó quên.Sau đó Triệu được chuyển sang học tập với 2 danh thủ là Trần Hàn Phong và Vương Hâm Hải thì kỳ nghệ bỗng chốc đại tiến cực nhanh.Năm 14 tuổi đã đoạt được danh hiệu quan quân thiếu niên toàn Trung Quốc được danh thủ năm xưa là Tổng tiêu đầu của đội cờ Thâm Quyến là đại sư Lưu Tinh chú ý,mời vào đội cờ của mình tham chiến các giải quốc gia,sau này khi ngồi ở vị trí tiên phong tại Giải đồng đội toàn quốc năm 2002,Tiểu Triệu với 9 trận bất bại (7 thắng,2 hòa) trở thành 1 hiện tượng rất đáng chú ý của năm đó.Đặc cấp đại sư Mạnh Lập Quốc chứng kiến bước tiến thần tốc của Tiểu Triệu còn viết hẳn 1 bài đánh giá đăng trên tạp chí Kỳ nghệ công khai ngưỡng mộ tài năng của Triệu đủ thấy Triệu tuy còn nhỏ nhưng chắc chắn đã không phải là 1 kẻ tầm thường !

Dẫu biết “Tự cổ anh hùng xuất thiếu niên” chỉ bằng những căn cơ nhen nhóm,chỉ học từ chỗ đơn sơ “Mã tẩu nhật,Tượng tẩu điền,Xa hoành trực,Pháo cách sơn” mà sau vẫn có thể trở thành nhất quốc kỳ quân thì tất không thể chỉ nhờ vào mỗi có thiên tư tuyệt đỉnh trời ban mà cần phải có tinh thần mạnh mẽ,ý chí phi thường,ngày đêm rèn luyện công phu như giũa ngọc mài kim mới mong có được thành tựu to lớn sau này.Hồ Vinh Hoa dù 15 tuổi đã ở ngôi cao nhưng vẫn không hề tự mãn,vẫn một lòng học đạo 2 lão danh sư,sau cùng vận dụng như ý mới có được sự nghiệp liên bá lẫy lừng về sau.Hứa Ngân Xuyên năm 12 tuổi đã phải rời xa gia đình một mình lên tỉnh tập trung quyết tâm cầu nghệ.Triệu Hâm Hâm sau khi đoạt ngôi quán quân thiếu niên Trung Quốc nhưng tinh thần không lung lay,ngoài việc học Trung học ở trường ra thì ngày đêm vẫn không quên tập huấn nâng cao trình độ cùng các bậc đàn anh tại Trung tâm cờ tướng Hải Dương Trung của tỉnh Chiết Giang.

Hồ,Hứa,Triệu cũng như bao kỳ thủ kiệt xuất khác,xuất phát điểm thì khác nhau nhưng mục đích chung thì giống nhau là đều luôn luôn không muốn dừng lại,luôn muốn cầu tiến trong mọi tình thế của mình.Hồ Vinh Hoa khi đã quá ngũ tuần nhưng uy phong vẫn chưa hề suy giảm không phải vì tài nghệ của lão tướng quân này quá mức ổn định mà vì Hồ Vinh Hoa nhất quyết bỏ qua ý định thoái ẩn phong đao,vẫn luôn cầu mong chiến đấu,cống hiến và thách thức sự tiến lên của lớp trẻ.Hứa Ngân Xuyên sau khi đã có tên tuổi,trong suốt 10 năm đạt được vô số thành công nhưng vẫn chưa vừa lòng,tinh thần và thể lực lúc nào cũng ở trạng thái dồi dào,lầm trận là quyết thắng,phát huy hết mọi khả năng của mình.Triệu Hâm Hâm,tuổi còn trẻ,tính tình vui vẻ nhưng niềm say mê và khả năng tập trung thì rất lớn.Trước trận nói nói cười cười tự nhiên thoải mái.Trong trận nghiêm chỉnh,lặng lẽ.Sau trận vẫn chưa muốn bỏ qua,vẫn thích bình luận thêm về ván đấu.Tại giải Dương Quan Lân Bôi lần thứ 2 năm 2006 đã từng luận kiếm với Lữ Khâm đến tận nửa đêm mà chưa muốn dứt.

Hồ,Hứa,Triệu,3 vị kỳ thủ xét về tâm lý thì dù cho tuổi đời có khác nhau nhưng phong thái thi đấu,tiến thủ thì rất mực vững vàng,bản lĩnh.Mỗi người một phong cách nhưng tựu chung lại đều ở nước cờ tự nhiên với niềm tin tuyệt đối.”Công tâm vi thượng”,điều khiển quân cờ mà mình đang có,suy nghĩ thấu đáo,nhận xét tinh tường,tấn công vào mọi trang thái yếu kém của quân địch,buộc quân địch phải tự đầu hàng.Cách đánh biến hóa khôn lường nhưng không phát sinh kiêu ngạo,coi thường nên nhờ thế sức cờ đuợc duy trì ở mức tối thượng,đạt được vô chiêu mà thắng hữu chiêu,đi từ hết thắng lợi này đến thắng lợi khác chắc chắn không phải nhờ ở may mắn và sự ngẫu nhiên.Hồ Vinh Hoa được biết đến với phong cách chơi cờ Đa mưu thiện biến,quỷ đạo cơ binh.Hứa Ngân Xuyên nổi danh với công phu Kim Cương bất hoại,lối đánh chính thường dĩ bất biến ứng vạn biến.Triệu Hâm Hâm bản tính sáng tạo,khảng khái,lấy nhanh thắng nhanh,lấy vô thắng vô,dùng hữu hạ hữu,bất luận cương nhu đều là hòa hơp.Hồ,Hứa,Triệu khi lâm trận thấy biến thì không sợ,cơ mưu linh hoạt,phân tích rõ ràng,đi cờ dứt khoát phản ánh trạng thái thi đấu tinh anh,sắc sảo,bền vững dài lâu.

Người Trung Quốc vốn dĩ rất tin vào mệnh trời,trong lĩnh vực cờ tướng cũng thế.Họ tin rằng các kỳ thủ kiệt xuất đều là những người có thiên tướng chiếu mệnh.Mà đã là có thiên tướng thì dù có thất bại thế nào thì vẫn có thể đứng lên đạt được những gì mong muốn.”Khổ tâm chí,lao cân cốt,tiên nhược suy,hậu mãn thành”.Năm 1960,sau 1 vài thắng lợi rất đáng ngạc nhiên,Hồ Vinh Hoa gặp Vương Gia Lương bị danh tướng Hoa Bắc này xuất tuyệt chiêu thí quân công sát,Hồ không đỡ nổi mà thốt lên rằng ” Sát chiêu cao” nhưng dù vậy vẫn không chột dạ mà tiếp tục tiến lên.Rồi đến thời kỳ 1980 bị mất chức vô địch ở Lạc Sơn vào tay Liễu Đại Hoa,không còn xưng hùng xưng bá được nữa,tiếp đó trong các năm 1981,1982 lại liên tục thất bại.Kỳ nghiệp đã có phần chững lại.Rút ra từ thất bại đó,Hồ Vinh Hoa thâm sơn luyện kiếm để đến năm 1983 mới quay trở lại uy chấn giang hồ đoạt được quan quân,lấy lại danh tiếng năm xưa trở thành truyền kỳ không dứt của kỳ đàn Trung Hoa đại lục.Hứa Ngân Xuyên sau 2 năm tham gia giải cá nhân toàn quốc dù sắp vinh quang nhưng lại tuột mất.Năm 1992,hội ngộ Hồ Vinh Hoa,trên thế thắng lại thất bại nên chưa thuyết phục được quần hùng nhưng sau đó vì không cam lòng mà quyết tâm phục hận đến lần thứ 3 mới có cơ hội lên ngôi,hội kiến Triệu Quốc Vinh bị Triệu dùng chủy thủ “đoản thối xa” đánh cho tan tành nhưng vẫn ngẩng đầu tiến về phía trước,cuối cùng đắc vị quán quân,xưng vương từ đó.Triệu Hâm Hâm năm 17 tuổi tham gia giải cá nhân toàn quốc bị vướng vào rắc rối bên lề bị cấm thi đấu 1 năm,sau đó bị nhiều điều tiếng không hay,đúng là 1 cú sốc khó thể vượt qua nhất là với 1 kỳ thủ tuổi đời còn quá non trẻ.Tuy nhiên Tiểu Triệu đã bỏ qua nhiều lời phê bình,không phát sinh tư tưởng chán chường bỏ nghiệp nên cuối cùng đến năm 19 tuổi vẫn được đến Nội Mông Cổ thi đấu,đánh cờ chậm không khuất phục hết chư hầu,đến khi đấu cờ nhanh tình hình lại không sáng sủa,lành ít dữ nhiều bỗng dưng tâm tư thoát ngộ liên tục đánh ra thần chiêu quái biến vào tới tận trận chung kết rồi đoạt luôn quán quân,lập nên công trạng to lớn cho quê hương mà từ đó vang danh khắp nước,trở thành ngôi sáng sáng chói trên kỳ đàn Trung Quốc ngày nay.

Hồ,Hứa,Triệu thực lực có thừa,cộng thêm tinh thần bền vững,có ý chí quật khởi mạnh mẽ,cầu tiến,có thắng có bại nhưng đều luôn coi trọng lấy đó làm bài học cho mình,sau đó nhờ vào lợi thế thiên tài trời ban mà phát huy đúng lúc đạt được công lao bậc nhất đến các danh thủ lâu năm đều phải hằng mơ ước,người bình thường chắc phải mấy mấy chục năm bỏ nhiều tâm huyết may ra mới có được thành công như thế.Họ không phải ở mức cao siêu thần thánh mà đều nhờ ở 1 khát vọng lớn lao,khai phá và nghiên cứu đầy đủ những lý thuyết cờ đã qua trở thành năng lực,tài nghệ ngấm dần vào tiềm thức của chính mình.Dựa trên nền tảng về 1 kho kiến thức vững vàng rồi từ đó biến hóa lên chứ không hề là sự ngẫu nhiên bộc phát.Hồ Vinh trong khi thi đấu các giải lớn vẫn không quên bỏ nhiêu công sức chuyên tâm xem lại các dạng khai cục cổ để cải tiến rồi bổ sung chỉnh lý cho phù hợp với thực tiễn của mình.Hứa Ngân Xuyên,căn bản thâm hậu coi chuyện nghiên cứu Khai cục là rất quan trọng,trong lối đánh chính thường bất biến vẫn luôn có điểm đột phá mới nhờ thế mới dành được nhiều chiến thắng vẻ vang.Triệu Hâm Hâm thừa hưởng tinh hoa trận thức của mấy trăm năm cộng lại nhưng không quá gò bó,vận dụng linh hoạt,sáng tạo,trong trận vẫn can đảm đem ra thử nghiệm chiêu mới,biến hóa kỳ lạ gây bất ngờ cho đối phương.

Thời đại mới,phát triển hơn,cờ tướng chắc chắn sẽ còn có nhiều bước tiến dài mạnh mẽ,sẽ xuất hiện nhiều anh tài cờ tướng tuổi trẻ và tài cao hơn nữa.Nhưng với những gì đã qua,đã được chứng thực,đã được ghi chép tỉ mỉ,cặn kẽ,có thứ tự và khoa học hơn có thể tạm coi như kỳ đàn ngày nay mới chỉ có 3 vị tướng gia đáng được gọi là thiên tài xuất chúng vậy.Ở họ chứa đựng đầy đủ tố chất và biểu hiện hơn người đủ sức thu hút lòng người mến mộ.Hồ Vinh Hoa với 40 năm chinh chiến chói lọi đại diện cho 1 thế hệ kỳ thủ năm xưa đang trên đường khai phá lý luận và thực tiễn thi đấu khốc liệt,khẩn trương của cờ tướng hiện đại.Hứa Ngân Xuyên với kiến văn sâu sắc,tư duy sâu xa,đại diện cho thế hệ kỳ thủ đương thời vừa tiếp thu vốn cũ,vừa mở rộng phát triển nâng cao lý luận hiện đại của cờ tướng.Triệu Hâm Hâm với lối nghĩ táo bạo,phong cách tự tin,không quên tinh hoa nguồn cội đại diện cho 1 thế hệ kỳ thủ tương lai,không ngừng tìm tòi,giao lưu mở rộng,trao đổi thông tin để đi đến 1 mức độ hoàn thiện và phổ quát hơn nữa trong nghệ thuật chơi cờ.

Chủ Nhật, 15 tháng 12, 2013

Danh Thủ Hà Quang Bố


   Danh kỳ hà quang bố mà làng cờ tướng Sài gòn, Chợ lớn thời bấy giờ quen gọi  Giáo Bố cùng danh thủ Nguyễn Thanh Ngoan, Hứa Văn Hải từng được tôn sư ( tam    bửu phật) của  viet nam Đương thời ông đi lại giang hồ khắp nam kỳ lục    tỉnh và cả các tỉnh miền trung để khiêu chiếu. năm 1932 , nhân chuyến qua    việt nam, Danh kỳ Triệu Khôn có so tài với Giáo Bố và ván thắng của Giáo Bố    được lão danh thủ Lê Vinh Đường ghi lại trong việt nam tượng kỳ phổ.

Danh kỳ trác tuyệt họ Hà
Hà Quang Bố thường được làng cờ gọi thân mật là Giáo Bố. Ông sinh năm 1907 ở    huyện Long Mỹ, trước kia thuộc Rạch Giá, sau này thuộc về Cần thơ. Vì ông    lập gia đình ở Cà Mau và làm việc tại đây nhiều năm nên mọi người lầm tưởng    ông quê quán ở Cà Mau.
Điều này có thể hiểu và thông cảm được, nhưng ai đó viết quyển " Gò công xưa"    ghi ông là người Gò Công thì không rõ đã căn cứ vào đâu?
Theo nhà nghiêc cứu Lê Vinh Đường thì Hà Quang Bố có lần nói với mình là hậu    duệ của người Minh Hương. Nhưng Hà Quang Minh- con trai thứ hai của Giáo Bố-    cải chính rằng dòng họ Hà này thuộc tộc người Việt vì chữ Hà viết có thảo    đầu.
Ông nội và cha của Hà Quang Bố đều là những người chơi cờ rất giỏi, lúc mới    lên 10, ông đã được cha là Hà Quang Vinh chỉ dạy, tiến bộ rất nhanh. Năm 15    tuổi, khắp huyện Long Mỹ không có một tay cờ nào đương cự lại ông.

Danh thủ Việt Nam sử dụng Mã hay nhất
Nhìn    chung nếu đã là tay cờ giỏi thì bất cứ một quân cờ nào cũng phải sử dụng    linh hoạt cả. Tuy nhiên, trong quá trình thi đấu, một số kỳ thủ đều công    nhận cố danh thủ Hà Quang Bố là người sử dụng cặp Mã hay nhất. Năm 1932, học    trò của Chung Trân là Triệu Khôn từ Quảng Đông sang Việt Nam đã bị Hà Quang    Bố đánh thắng một ván. Đương thời ông giáo Bố được làng cờ ca ngợi là “cặp    thần Mã của giáo Bố”. Danh thủ thứ hai của Việt Nam sử dụng cặp Mã hay là Lý    Anh Mậu. Trong một ván thi đấu giải vô địch TP HCM năm 1977 tại Nhà Văn hóa    Lao Động (nay là Cung Văn hóa Lao Động), Lý Anh Mậu đã sử dụng quân Mã rất    xuất sắc, đưa quân Mã vào cửa tử để sau đó bắt được Tướng đối phương.
Danh kỳ hà quang bố mà làng cờ tướng Sài gòn, Chợ lớn thời bấy giờ quen gọi    Giáo Bố cùng danh thủ Nguyễn Thanh Ngoan, Hứa Văn Hải từng được tôn sư ( tam    bửu phật) của  viet nam Đương thời ông đi lại giang hồ khắp nam kỳ lục    tỉnh và cả các tỉnh miền trung để khiêu chiếu. năm 1932 , nhân chuyến qua    việt nam, Danh kỳ Triệu Khôn có so tài với Giáo Bố và ván thắng của Giáo Bố    được lão danh thủ Lê Vinh Đường ghi lại trong việt nam tượng kỳ phổ.

Kỳ Vương Lý Anh Mậu (P.2)

   


Lý Anh Mậu, em của nhà văn Lý Văn Sâm, là một đại kiện tướng về cờ Tướng Việt Nam. Hình bên là một trong nhiều bìa sách cờ thế của Lý Anh Mậu, trước đây được nhà xuất bản Khai Trí tại Saigon in lại rất nhiều. Đổi đời, bảng hiệu Khai Trí không còn nữa, nhưng sách cờ tướng của Mậu vẫn tái bản luôn.

Thời tôi còn niên thiếu ở Sài Gòn, Lý Văn Sâm đã nổi danh như cồn trong các tuần báo, nhật báo và văn học thời chống Pháp.

Tôi nhớ rõ lúc còn trẻ từng thuộc làu các câu thơ trên báo thế giới như câu chuyện Lục Quốc Tranh Hùng kể về giai thoại các ký giả, văn thi sĩ lừng danh thời đó như Vũ Anh Khanh, Thẩm Thệ Hà, Ái Lan, Hoàng Tố Nguyên, Chim Xanh Liên Chớp...

Trong truyện Lục Quốc Tranh Hùng có ghi phần I;

Lý Văn Sâm bán áo nuôi con
Thẩm Thệ Hà qua sông tìm bạn mới


Hoặc

Thích chưng ảnh Vũ anh Khanh mang họa
Ham làm báo Dương Tử Giang ở tù...


Vì ông anh Lý Văn Sâm nổi tiếng quá, nên Lý Anh Mậu suy nghĩ.

-Ảnh nổi tiếng là văn nghệ sĩ quá rồi, bây giờ mình viết văn thì không hơn được ảnh. Vậy phải đi đường khác.

Con đường ưa thích nhất của Lý Anh Mậu là chơi cờ tướng vì từ thuở bé, cậu bé thần đồng ở Biên Hòa tuy nhỏ mà chưa nhường ai một nước cờ nào hết.

Tuy nhiên chơi cờ tướng thì suốt ngày ngồi còm lưng uống nước lã, Lý Anh Mậu phải tìm cách kiếm tiền để độ nhật. Vì thế nên ông xin vào tiệm hớt tóc để học nghề thầy hớt tóc, lấy rái tay. Chẳng mấy lâu đã thành thạo, ông bèn tự đóng một cái thùng cây nhỏ để đi hớt tóc dạo. Vừa kiếm cơm nuôi miệng, vừa gặp nơi nào có bày cờ tướng thì nhào vô xem cho đã hay đánh một vài ván với làng xóm cho vui.

Thế là với cái thùng hớt tóc, ông len lỏi khắp thôn xóm Biên Hòa, đi tới đâu cũng rao mời:

-Hớt tóc dạo đây.

-Hớt tóc lấy ráy tai đây!

Cứ thế mà ông kiếm cũng đủ tiền cho tấm thân gầy nhom, cái bụng lép xẹp của mình sống qua ngày.

Không nổi tiếng văn nhân nhà báo như người anh, nhưng ông được các vị lão thành trong làng kỳ thủ rất trọng vọng yêu mến. Ngày nọ ông cầm trên tay một ổ bánh mì baguet (bánh mì đũa) ngồi đưới gốc cây đa to ở đình Phú Thạnh, ăn bánh mì với hai ba quả chuối già, uống mấy ngụm nước mưa múc ở nhà người dân trong xóm đình.

Ngày xưa, mỗi nhà thường đặt một cái lu trước thềm để hứng nước mưa uống. Dựa bên cái lu, cái vại lớn, người ta có chống một cái sào có nạng, cháng hai cháng ba, rồi móc một cái gáo dừa để múc nước. Lu nước luôn trong vắt mát lạnh như nước đá để cho người qua đường ai khát thì uống khỏi trả tiền, cũng không cần một tiếng cám ơn cám nghĩa gì.

Đó là người dân Nam Bộ. Nhưng khi hiềm khích nhau, tranh tụng ruộng đất hay chuyện danh dự làng xã, có gia đình người em dành đất với gia đình anh ruột ở Cái Bè, họ lén mướn thầy bùa Chà Châu Giang thư ếm, và bỏ thuốc độc vào mấy cái lu nước uống ngoài sân để hại nhau.

Từ đó dân Hậu Giang cũng ngại bùa ngãi của bọn thầy người Xiêm, cả người Ấn. Nhất là sợ người Ấn võ nghệ cao cường một mình vác cái bị vải to đi bán dạo khắp nơi. Họ bán vải lụa tốt giá rẻ, bà con nào không tiền thì mua chịu cũng được, rồi hẹn ngày vài ba tháng trả tiền sau. Nhưng đừng ai quịt của họ một đồng nào cả, vì quịt thì bị họ thư ếm cho mà chết. Có người gian tham bị ếm bụng to sình, có người bị thư cả một cây kéo vào bụng.

Lý Anh Mậu biết chuyện đó, nhưng ông không sợ gì hết, cứ đi hớt tóc dạo, khát nước thì coi ai có ly nước ngoài thềm mà vào xin uống một hai gáo.

Bữa đó trời nắng nóng như lửa, ăn xong ổ bánh mì dài thòn như chiếc đũa rồi thấy khát nước, Lý Anh Mậu xách thùng hớt tóc lên đi dọc theo đám hàng rào bông bụp, tìm nhà có lu nước để uống. Thời may, trong căn nhà vách bổ kho, cột lớn như cột đình, lại cất nền đá ong nhà theo kiểu Tây, có vẻ bề thế của một ông phú hộ nào đó.

Trong nhà có tiếng chó sủa ra, Lý Anh Mậu vạch hàng rào nhìu vô thì thấy bốn năm ông già có vẻ kỳ lão, ăn mặc toàn gấm lụa đang đấu cờ tướng, tiếng nói cười vang ra cả ngoài mé lộ. Lý Anh Mậu xách thùng đồ nghề rao lớn:

-Hớt tóc dạo có lấy ráy tai đây bà con ơi... Hớt tóc dạo đây!

Phần nhiều Lý Anh Mậu chỉ hớt cho các chú học sinh hoặc đám con nít trong làng. Người lớn còn nhiều kẻ để tóc búi lên, ít ai thích hớt ngắn cho gọn

Mấy ông già vừa đánh cờ, vừa nhịp quân cờ lắc cắc, vừa hù dọa, trêu chọc nhau, có vẻ gay cấn quá tay.

Chàng họ Lý lúc đó mới mười bảy mười tám tuổi, độc thân sống bụi đời, lại ăn mặc lem luốc lang thang cũng chẳng kém gì cái bang ba bốn túi. Thấy đánh cờ thì phấn khích lên, giở tay đẩy cái cổng qua bên, xách thùng hớt tóc đi vào.

Bất thần hai con chó đen, loại chó Phú Quốc rất khôn ngoan, hung tợn nhảy sồ ra cắn lấy quần dài của chàng Lý lôi đi.

Lý Anh Mậu la hoảng:

-Chó! Chó!

Mấy cụ già mê chơi cờ không để ý cậu thanh niên bị chó lôi sệch vào sân rộng.

Người nhà ra la đàn chó, rồi hỏi:

-Ở đây có ai kêu vô hớt tóc đâu mà dám mở cổng vào nhà chứ!

Lý Anh Mậu mới hoàn hồn cúi đầu nói:

-Dạ... tôi xin phép bà chủ cho vô để coi đánh cờ tướng.

Bà ta cũng độ trung niên, vẻ mặt lộ ra vẻ đài các, nhưng cũng là người đạo mạo hiền từ nên hạ giọng:

-Vào nhà ẩu như thế, may mà con chó nó chỉ cắn quần thôi, nó dữ lắm có thể chồm lên cắn cổ đó nghen... con!

Lý Anh Mậu khúm núm:

-Dạ... dạ.

-Thôi ra ngoài đi hớt tóc đi. Mấy ông già đánh cờ tướng khá lắm, mầy vào coi nói bậy bạ thì ăn roi đó!

Lý Anh Mậu năn nỉ:

-Xin cho coi một chút thôi. Tôi không nói gì đâu!

-Ừ, coi bộ mầy mê cờ dữ lắm hả.

Lý Anh Mậu nói:

-Con thích lắm. Vừa coi vừa nghỉ chân một lát. Xin bà chủ cho con gáo nước lạnh!

Bà chủ nói:

-Đã đòi coi đánh cờ bây giờ lại đòi uống nước nữa chứ! Ai mà hầu dễ thế! Nói thì nói bà ta vẫn gọi một cô gái ra đem cho Lý Anh Mậu tô nước lọc, nói:

-Uống thì uống đi.

Cô gái trắng trẻo dễ thương cũng trạc tuổi như Lý Anh Mậu, cô trao tô nước lớn rồi hỏi tự nhiên:

-Còn khát nước nữa không!

-Hết khát rồi. Cám ơn cô!

Thấy anh chàng tuy có bộ dạng nghèo khó nhưng ăn nói lễ độ, cô gái gật đầu một cái rồi cầm cái tô đi vào nhà trong.

Lý Anh Mậu để thùng hớt tóc dưới cột nhà, đi lại gần các kỳ thủ. Đã đến lúc cờ tàn rồi, nhất là ông chủ nhà đang cầm cự với đối phương để kéo dài thời gian.

Ông Ba Lân, vừa đánh vừa lắc đầu:

-Ờ! ờ! Ván này hơi khó cho ta đây.

Ông Kỳ là đối thủ nói:

-Ráng gỡ đi ông bạn! Ông là tay chơi cờ hạng nhất ở vùng này mà.

Ba Lân chơt thấy có anh chàng trai trẻ đang chăm chăm nhìn mình, bỗng hỏi:

-Cậu ở đâu vào đây!

-Dạ đi hớt tóc dạo, thấy đánh cờ vui quá nên cháu mới vô coi thử!

Ông Ba Lân cáu lên: -Mầy con nít biết cái gì mà coi... thử chớ"

Lý Anh Mậu mê cờ, cóc cần nghe ông Ba Lân cự nự. Bỗng anh thấy sáng ra một nước cờ tàn bèn nói:

-Bác ơi! Bác cho con pháo bình ba rồi cho con chốt đầu lội qua sông đi bác.

Ba Lân suy nghĩ một chút, bèn làm theo lời thằng bé, chợt Lý Anh Mậu cười khúc khích nói nhỏ:

-Thọc cho xe xuống chiếu đi, còn chờ gì nữa.

Chỉ qua hai nước cờ đã gỡ thế bí cho chủ nhân, ông Ba Lân đang chơi bỗng xoa đầu Lý Anh Mậu một cái rồi nói:

-Khá lắm! Khá lắm!

Ông Kỳ đối thủ của Ba Lân nói:

-Chỉ tại cái thằng con nít này, không thì tao chiếu bí ổng rồi.

Lý Anh Mậu cười nói:

-Đó là nước pháo đôi, thế cờ "Minh tu sạn đạo ám độ trần thương" của anh chàng lòn trôn giữa chợ đó thôi.

Chỉ có Hàn Tín là lòn trôn giữa chợ, nhưng giọng nói quá độc ác vừa ám chỉ khinh miệt thế cờ tồi tàn này của Ấm Kỳ, khiến ông Ấm Kỳ đổ quạu quay lại:

-Thằng hôi hám này đi chơi chỗ khác đi.

Nhưng ông Ba Lân cười cười nói:

-Cứ để nó đứng đó, có... ăn thua gì đâu! Ấm Kỳ càu nhàu:

 -Cấm nói vô nói vào. Mầy mà còn nói bậy tao vả cho gãy răng hô của mầy đó.

Vì gỡ được thế bí nên ông Ba Lân phấn khích lên, ăn Ấm Kỳ hai ván nữa.

Đã xế trưa rồi, mệt mỏi nên họ dẹp bàn cờ để ăn cơm trưa.

Nhìn thấy Lý Anh Mậu còn đứng đó, ông Ba Lân lộ hẳn cảm tình nói:

-Mầy cao cờ lắm. Thích thì ở nhà tao vài ngày chơi cờ với tao nghe. Có gia đình vợ con gì chưa"

Lý Anh Mậu nói:

-Dạ... tứ cố vô thân!

-Vậy thì tốt. Ở lại hớt tóc cho mầy thằng cháu của tao, thôi vô ăn cơm rồi hãy tính sau.

Nhìn lại thấy Lý Anh Mậu lôi thôi quá nên nói:

-Nè... em tên gì. Đi tắm rửa cho sạch sẽ rồi tao đưa đồ mới mà mặc.

Suốt ba ngày Lý Anh Mậu ở lại nhà ông bá hộ Ba Lân, cứ ngày ngày ăn uống trà nước xong thì bàn cờ tướng bày ra đấu nhau.

Có ván được, có ván thua, nhưng những thế cờ lạ lùng của chú bé Lý Anh Mậu biến hóa càng lúc càng cao, càng lạ lùng. Tuy nhiên Lý anh Mậu rất lễ độ cứ gần chiếu bí ông Ba Lân, lại mở ra cho ông ta đánh tiếp.

Càng đánh càng say cờ, họ quên ăn quên ngủ. Có lần bà chủ ra nói với ông Ba:

-Nè... bộ ông muốn "ăn chay" luôn hả! 

Ông Ba khẽ cười nói:

-Thì bà chờ tui hết ván cờ này đã. Bà có mệt... thì đi nghỉ sớm đi.

Cô gái ban đầu cho Lý Anh Mậu uống nước cũng ra đứng coi. Cô có vẻ hiểu biết về cờ tướng và cũng xen vào định nước cờ với cha. Đặc biệt là khi có cô gái, Lý Anh Mậu chơi cờ cứ thất thế và chịu thua ông già luôn. Chợt cô nói:

-Ảnh thả... đó ba ơi! Đừng chơi nữa!

Ông già ngẩng lên cười:

-Mầy thả cờ... cho tao ăn hả!

Lý Anh Mậu hấp tấp nói:

-Dạ... đâu có, bác đánh thắng con thật mà!

Sau ván cờ đó, ông Ba Lân vào nói với vợ:

-Thằng Mậu thông minh, giỏi lắm, lại đánh cờ với tôi có vẻ lịch sự, nó luôn nhường tôi vài ba nước! Tôi nghe nói nó là em của nhà văn Lý Văn Sâm nổi tiếng nữa, đâu có tầm thường!

Bà nói:

-Cái ông này làm gì mà hỏi lý lịch nó dữ vậy ông"

Ông Ba Lân nói:

-Ý tôi muốn nói với bà là con gái mình cũng rất nể phục nó. Con nhỏ xưa nay không hề nể phục ai cả!

Bà cười:

-Thôi... tôi biết rồi! vậy ông muốn bắt thằng Mậu này lại... cho ở rể chứ gì!

Ông Ba nói:

-Nhưng phải thử cái tài nó có thực hay không đã. Ngày mai tôi mở hội cờ tướng, bà lo các thức ăn đãi tiệc mọi người đi.

Ngày hôm sau, ông Ba Lân cho bày ra ba bàn cờ tướng mới tinh. Ông cho đầy tớ đưa thư mời như có vẻ thách mọi người xa gần nổi danh cờ tướng khắp nơi về tranh giải.

Chẳng bao lâu hội cờ tướng mở ra, có cả mấy ông chức sắc trong làng đến. Người dân nghe có hội cờ bỏ cả công việc vườn tược, đồng áng đến xem hội rất đông.

Hội cờ ba ngày chọn ra ba Kỳ thủ đấu nhau, cuối cùng chọn lại một kiện tướng và cho Lý Anh Mậu ăn mặc đồ mới tinh, lại chít khăn đóng để ngồi chính vị.

Lần lượt Lý Anh Mậu hạ hết từng người, đến lúc đấu với ông Ấm Kỳ thì có ý nhường ông một nước để thủ hòa!

Thế là tiếng tăm Lý Anh Mậu trong giới cờ tướng nổi lên như cồn, ai cũng đồn đại, đến tai ông anh Lý Văn Sâm.

Lý Văn Sâm nói với anh em:

-Thằng đó suốt đời nghèo khổ vì cờ!

Ông Ba Lân cho con gái nâng khăn sửa túi cho chàng rể phiêu bạt giang hồ. Nhưng chẳng bao lâu, kỳ thủ Lý Anh Mậu lại chán cảnh ngồi không, lại xách thùng hớt tóc dạo từ bỏ gia đình cha mẹ vợ mà ra đi.

Thời đó có một kỳ thủ đệ nhất ở Bắc Hà vào thi đấu ở hội chợ Vườn Ông Thượng còn gọi là Vườn Bờ rô, kỳ thủ này sau khi hạ gần hết các tay cờ tướng miền Nam thì đụng với Lý Anh Mậu, ba ván cờ quyết tử lừng danh nhưng đều phải hạ tay bái phục chàng thanh niên kỳ tài.

Vừa lúc đó hội cờ tướng miền Nam có mời được vô địch cờ tướng Hồng Kong là Lý Chế Hải sang đấu. Nhưng Lý Chế Hải đấu với người vô địch cờ tướng Bắc Kỳ đã bị thua trước, nên không được độ với Lý Anh Mậu nữa.

Lý Anh Mậu thành bậc đại kiện tướng thất nghiệp, lúc này đã ngoài tuổi ba mươi, ông đi lang thang ở chợ Sài gòn để kiếm ăn.

Nhất là đám bày cờ thế ở bến xe lửa Sài Gòn có Hoàng áo Đỏ, lần nào thấy Lý Anh Mậu đến chen vào coi, cũng đến sau lưng họ Lý bỏ mấy đồng nhét vào tay Lý Anh Mậu mà nói:

-Cha ơi, lấy mấy đồng uống cà phê rồi đi chỗ khác dùm con, để con kiếm ăn...

Sài Gòn Chợ Lớn lúc này có nhiều hội cờ tướng nhất là ở quận 5, gần đường Khổng Tử. Số người mê cờ độ, đánh ăn tiền lớn, nghe tiếng Lý Anh Mậu bèn mời vào trợ thủ. Họ đánh cờ trong tiệm nước lớn như Đại La Thiên, Lý Anh Mậu đóng vai người giúp việc bưng nước trà đãi khách. Hễ khi nào chủ quán bị chiếu bí, hay gặp ván cờ khó thì vào cho Lý Anh Mậu bưng bình trà ra, có sẵn ám hiệu, Lý xem nước cờ rồi ra dấu từng nước để chủ thắng đối phương.

Họ nuôi dưỡng Lý Anh Mậu vài ngày thì họ Lý bị khám phá ra, không dùng được nữa, Lý Anh Mậu lại thất nghiệp, ông đi lang thang vào vùng đồng Ông Cộ ở Gia Định.

Lúc đó ở đồng Ông Cộ, ăn mày mỗi ngày đi ăn xin, tối về chùm nhum lại đánh bài, cho vay hay ăn nhậu với nhau. Ban ngày chúng đi ăn mày, đứng coi các nhóm đánh cờ ở chợ Sài Gòn gần Kim Sơn, Thanh Thế! Nhờ họ nói, Lý Anh Mậu mới biết Đồng Ông Cộ có sòng bạc lớn, đúng hơn là sòng đánh cờ tướng thật ồn ào đông đúc.

Phần nhiều dân chạy taxi đến chiều thứ Bảy thì đúc xe từng dọc, từng dãy trên con đường đất um tùm tre nứa và mồ mả rồi bắt đầu đánh cờ tướng ăn tiền lớn với nhau.

Tay chủ chứa xếp sòng là Hai Thiện, dân có máu mặt đứng sòng tổ chức hội cờ tướng đánh với các kỳ thủ từ Lái Thiêu xuống hay từ Sài Gòn Chợ Lớn vào, toàn con buôn có tiền của.

Lý Anh Mậu đem theo một ông chủ có tiền ở quán nước Sinh Ký giả làm dân ghiền đi coi đánh cờ đột nhập vào khu đồng Ông Cộ.

Anh Hai Thiện hôm đó thắng lớn, hết tay chơi định dẹp thì Lý Anh Mậu xin vào đánh. Ván cờ đó số tiền khá lớn.

Đánh được ba bốn ván thì Lý Anh Mậu thắng được một, sau đó từ từ thắng luôn hai ván rồi đứng lên, hẹn thứ bảy tới. Biết gặp tay cao cờ, Hai Thiện đành đồng ý. Mấy ngày sau Hai Thiện xuống Sài Gòn tìm được Hoàng Áo Đỏ, cả hai đi mời được bậc thầy cờ ở đình Phú Thạnh lên Đồng Ông Cộ để thi đấu với Lý Anh Mậu, ông này tên là Đình Quí xuống núi theo hai người chờ họ Lý vào sáng thứ bảy.

Hai Thiện bày những ván cờ mình bị thua ra nói:

-Anh chàng này đánh cờ có thua có thắng. Nhưng rất lạ là đến khi mình chiếu bí lại bị hắn ta chiếu bí lại, ăn chỉ có một hai nước cờ thôi. Tức lắm nên tôi mới thỉnh bác lên đây để đối địch với hắn cho xứng tay.

Đình Quí nói:

-Chết cha rồi, ông gặp tay cao thủ cờ tướng rồi đây. Để tôi xem tôi có thể đối địch với anh ta nổi hay không cho biết.

Dân chạy taxi mê cờ tướng như mê đá gà. Sáng thứ bảy đã đậu xe nghẹt cả lối vào vườn nhà Hai Thiện và bắt đầu sát phạt nhau inh ỏi!

Hai Thiện, Hoàng Áo Đỏ và Đình Quí đang ngồi uống cà phê trông ra đường chờ đội kỳ khách. Mặt trời lên độ một sào thì ba người thấy một trung niên từ xa đi lại.

Hai Thiện chỉ và nói:

-Đó đó! Hắn ta tới rồi đó!

Hai Thiện vừa nói xong, thì Đình Quí và Hoàng Áo Đỏ đứng bật lên gọi.

-Anh Mậu! anh Mậu!

Lý Anh Mậu vừa bước tới nghe gọi khựng đứng lại. Hoàng Áo Đỏ chạy vụt ra đón chào. Còn bậc thầy của Hai Thiện là Đình Quí quay lại chửi thề!

-Chết cha rồi! Mầy nhè ông thầy cờ của tao mà dám đánh với ổng, thua là phải rồi.

Hoàng Áo Đỏ vui vẻ mời Lý Anh Mậu vào mà giới thiệu:

-Đây là ông Lý Anh Mậu vua cờ tướng, người đã hạ Lý Chế Hải của Hồng Kong đó, sao anh dám chơi với ông!

Hai Thiện tá hỏa, mặt sượng trân.

-Thôi thì bày tiệc rượu lên, đãi ổng một bữa cho thỏa lòng. Gặp thái sơn trước mặt mà thằng em này không biết thật đáng tội.

Ai nấy đều cười xòa lên. Cả khu đồng Ông Cộ nghe nói có Kỳ Vương, đại kiện tướng Lý Anh Mậu lên chơi kéo ùa nhau chiêm ngưỡng vô cùng huyên náo và đầy trọng vọng đối với ông vua cờ tướng thời đó.

Trước đây họa sĩ Hoài Nam thường chơi với Lý Anh Mậu, cũng nghiên cứu cờ thế. Có lần hỏi Lý Anh Mậu rằng, Anh có thể tính trước được bao nhiêu nước, Lý đáp: Chừng một trăm nước.

-Nếu có người giỏi hơn thì thế nào"

-Họ đi con nào mình đi con nấy. Cùng quá thì thủ huề chứ không thể thua được.

Suốt đời Lý Anh Mậu mê suy nghĩ về cờ tướng, ông nằm chiêm bao thấy cờ tướng hiện lên trên bầu trời khắp nơi như các vị thần tướng.

Sau này ông mất ở nơi nào chúng tôi chưa tìm ra được. Sách cờ thế của Lý Anh Mậu được nhà xuất bản Khai Trí in lại rất nhiều cho đến ngày nay vẫn còn tái bản luôn, đó là chút tuyệt nghệ của Lý Anh Mậu, một người suốt đời chỉ nghĩ có cờ tướng mà không quan tâm bất kỳ việc gì cho bản thân của mình. 

(Tác giả: Trần Tuấn Kiệt . Nguồn: Vietbao.com)

Thứ Sáu, 6 tháng 12, 2013

Kỳ Vương Lý Anh Mậu

 
Lý Anh Mậu sinh năm 1926, là con của một viên chức làm Sở Kiểm lâm Biên Hoà. Ông là em ruột của nhà văn nổi tiếng Lý Văn Sâm; cả hai anh em sinh ra và lớn lên ở xã Bình Long, huyện Vĩnh Cửu của tỉnh Biên Hoà cũ, nay là thị trấn Vĩnh An, tỉnh Đồng Nai. Có người nhầm lẫn, cho rằng quê của Lý Anh Mậu ở huyện Tân Uyên, trước thuộc Biên Hoà, nay thuộc tỉnh Bình Dương. Bởi làng cờ xưa nay không ai nghĩ ông là người Bình Dương mà vẫn coi ông là "vô địch Biên Hoà" và gọi thân mật ông là Lý Anh Mô. Từ năm 1956, ông về cư ngụ lâu dài ở sau Toà hành chính Gia Định, cạnh nhà thầy bói Nguyễn Văn Thu cũng là một cao thủ cờ tướng, gần chợ Bà Chiểu, nên làng cờ liệt ông vào hàng cao thủ của đất Gia Định.

        Thuở nhỏ Lý Anh Mô theo học ở trường Tiểu học Biên Hoà và bắt đầu học chơi cờ chủ yếu tự mày mò nghiên cứu từ các bài báo in trong tập quảng cáo của nhà thuốc Võ Văn Vân. Lý Anh Mô kể lại : "Hồi đó, khoảng năm 1939-1940, gần nhà có một ông phú hộ rất mê cờ nhưng không đọc được chữ quốc ngữ. Thấy tập quảng cáo của Nhà thuốc Võ Văn Vân có in bài viết dạy cờ, ông ta đưa tiền cho tôi mua giùm và đọc giùm cho ông ta học. Hàng tuần, cứ mỗi sáng thứ bảy, tôi phải đi xe đạp từ thành phố Biên Hoà xuống Đa Kao Sài Gòn mua một quyển, xong quay trở về, đường dài trên 60 km".
        Mới 14-15 tuổi đầu mà phải đạp xe một quảng đường dài như thế, Lý Anh Mô không hề phàn nàn mà còn tỏ ra rất phấn khởi. Thì ra chú nhóc con này còn hơn ông phú hộ nọ, đam mê nghiên cứu các bài dạy cờ, dịch từ Quất Trung bí và Mai hoa phổ. Nhờ vậy Lý Anh Mô sớm lĩnh hội tinh hoa của nghệ thuật cờ tướng và nhanh chóng trở thành một tay cao cờ. Thời ấy khắp xứ Biên Hoà không ai địch lại ông. Đầu năm 1943, vừa đúng 17 tuổi, hùng tâm nổi lên Lý Anh Mô xuống Sài Gòn tìm Hứa Văn Hải để thử tài. Kỳ vương Hải thông cảm tính khí bồng bột của anh bạn trẻ, không hề giận mà còn tỏ ra thương mến, đem một số tài liệu quý lưu giữ từ lâu của mình giao cho Mô (một việc làm hiếm thấy) mong muốn Mô thay mình thống lĩnh làng cờ. Năm 1946, Lý Anh Mô thủ đài ở sòng bạc "Đại thế giới" thỉnh thoảng có dịp giao đấu cùng Hà Quang Bố và được ông dạy cho nhiều bài học nhớ đời. Và cũng nhờ đó mà gíao Bố rất thương và chỉ dẫn cho Lý Anh Mô như một đệ tử thực thụ của mình. Trong gần 10 năm thủ đài, Lý Anh Mô đã đúc kết nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, đặc biệt phát triển quan điểm coi cờ là một nghệ thuật cao quý, đòi hỏi phải chơi cho đẹp; tức là phải chiến thắng đối phương nhưng không phải chiến thắng bằng bất cứ giá nào. Nhiều trường hợp phải chiến thắng bằng cách phối hợp các quân, tạo ra một đòn nghệ thuật phối hợp liên hoàn chứ không chiến thắng bằng mọi thủ đoạn.
    Thời Sáu Mẹo ở Gò Công mới lên, trình độ cờ còn yếu, Lý Anh Mô phải chấp 1 nước tiên và ăn của Sáu Mạo khá bộn tiền, đến đỗi sau này Sáu Mẹo đánh lên tay, được làng cờ phong lên hà Thượng tướng vẫn không dám rủ đối phương ngồi lại cá cược.
Lý Anh Mô cũng có nhiều đệ tử, nhưng công đóng góp đáng ghi nhận nhất của ông là để lại cho đời hơn 10 quyển sách nhằm phổ cập cờ tướng cho đông đảo người chơi cờ. Nhiều tay cờ trẻ hồi thập niên 60 của thế kỷ trước nhờ học mấy quyển sách của ông mà lĩnh hội được tinh hoa của cờ và sau đó trở thành cao thủ, như Lê Thiên Vị, Dương Thanh Danh...Cũng như Thái Sanh Bính, ông đã đưa lý luận vào cờ tướng mà ông gọi "kỳ lý", để hướng dẫn người chơi có những "nguyên tắc" phải tuân thủ khi đánh cờ. Phần lý luận này thực sự chưa được đào sâu, tính tổng kết còn hạn chế, nhưng cách đây trên nửa thế kỷ mà nêu được như vậy đã là một cố gắng rất đáng khen.
   Điều đáng tiếc là thời gian ông làm chủ đài ở Đại thế giới, được trả lương hậu hĩnh, không biết sử dụng tiền để làm gì, ông nghe lời một số bạn bè hư hỏng, giao du cùng "nàng tiên nâu". Rồi những năm Đại thế giới bị dẹp (từ năm 1955 trở đi) ông thất nghiệp và cô bạn tri kỷ bắt đầu hành hạ ông. Lúc đó nhiều người bạn cờ ngạc nhiên: một Lý Anh Mô chơi cờ hoà hoa, phóng khoáng ngày nào, sao bây giờ bệ rạc, lẩm cẩm như vậy? Đúng, thiếu thuốc ông không nghĩ được gì! Sau đó ông phải đi giang hồ kiếm sống và dùng "mooc phin" chích cho đỡ ghiền. Ông không lập gia đình, cả cuộc đời dành cho cờ và cho nàng tiên nâu. Ông mất vào cuối năm 1978 sau một ca tai biến mạch máu não để lại sự ngậm ngùi, thương tiếc cho người thân và bạn bè.
Năm 1963, khi Kỳ vương Lý Chí Hải đến thăm làng cờ miền nam lần thứ hai. Ban tổ chức có mời Lý Anh Mô ra thi đấu với Lý Chí Hải. Nghe tin này Thái Sanh Bính đến gặp Lý Anh Mô thương lượng: Anh nhường cho tôi đấu với Lý Chí Hải, tiền bồi dưỡng 1.000$, tôi sẽ gửi lại cho anh, đồng thời tôi đưa thêm cho anh 3.000$ cho anh rủ Lý Chí Hải đánh độ, mỗi ván 2.000$.
Nghe bùi tai, Lý Anh Mô đồng ý nhường cho Thái Sanh Bính đấu công khai còn bản thân anh thì thuê phòng ngủ đấu với Lý Chí Hải 2 ván. Và như đã nêu ở trên: Sức cờ của Lý Anh Mô sau năm 1955 bắt đầu sa sút nghiêm trọng, trận đấu thử tài với Lý Chí Hải đã thất bại thảm hại, không khác gì Thái Sanh Bính!

(Trích từ kể truyện cờ tướng của Quách Anh Tú)

Thứ Ba, 15 tháng 10, 2013

MƯỜI CAO THỦ CỜ TƯỚNG ĐẦU TIÊN TRONG LÀNG CỜ MIỀN NAM VIỆT NAM


1- NGUYỄN VĂN NGOAN (1900 – 1966)

nguyenvanngoan
Đầu thế kỷ 20, một danh thủ Cờ Tướng nổi bật ở miền Nam Việt Nam là Nguyễn Văn Ngoan, mà tên thường gọi là Ba Quang. Xuất thân từ tỉnh Vĩnh Long, nhưng theo gia đình lánh nạn ở xứ Gò Công vì dính líu đến tổ chức Thiên Địa Hội, một đảng phái chống nô lệ Pháp thuộc.Ba Quang được mô tả như một chàng nghệ sĩ đa tài. Dẫu đã là một thợ kim hoàn nổi tiếng, nhưng còn là một tài tử đờn ca, thường kết bạn với giới nghệ sĩ cải lương. Đến nỗi khi hai đứa con gái xin đẹp lớn lên, ông cho theo đoàn hát, trở thành hai nghệ sĩ Thanh Loan và Thanh Hương nổi tiếng một thời. Từ khi lên 8, Nguyễn Văn Ngoan đã sớm làm quen với những con cờ, và khi chưa đầy 20, đã là một danh thủ nổi tiếng. Khi thủ đô Sài-gòn tổ chức giải Cờ Tướng lần đầu tiên, lúc 27 tuổi, Nguyễn Văn Ngoan xuất hiện giữa chốn đấu trường, và oanh liệt chiếm giải khôi nguyên 1927. Từ đó tên tuổi vang lừng khắp nước.

Thời bấy giờ nhiều tay Cờ nổi danh từ Trung quốc thường sang Việt Nam giang hồ kiếm sống, như Chung Trân, Tăng Triển Hồng, Triệu Khôn…Và với tánh tình cởi mở dễ kết bạn, cùng với nhiệt thành, khiêm cung học hỏi từ những danh thủ đó, kỳ nghệ của Ba Quang đạt đến trình độ thượng thừa. Một trong những thế trận từ cuốn Mai Hoa Phổ là chiêu thức “Bình Phong Mã” mà Ba Quang dày công tập luyện, đã trở thành độc chiêu nổi tiếng của ông.

Dẫu có khi vung tay vào những cuộc đánh cờ độ để ăn tiền, nhưng bản chất đạo đức và tính nhu mì, ưa học hỏi, Nguyễn Văn Ngoan luôn được giới yêu Cờ tôn là người “trọng nghĩa khinh tài”. Trong nhóm ba người kết bạn “Đào Viên” gồm có ông và Hà Quang Bố, Nguyễn Thành Hội, Nguyễn Văn Ngoan được ví là anh cả Lưu Huyền Đức, còn Hà Quang Bố là Quan Vũ và Nguyễn Thành Hội kể là Trương Phi. Cho đến nay, chiêu thức “Bình Phong Mã, khí Mã hãm Xa” vẫn còn được kể là tuyệt chiêu của Ba Quang, Nguyễn Văn Ngoan!


2- NGUYỄN THÀNH HỘI (1905-1956)

nguyen-thanh-hoi

Nguyễn Thành Hội là một trong hai người em kết nghĩa vườn đào của danh thủ Nguyễn Văn Ngoan. Ông người tỉnh An Giang, nhưng lớn lên ở Tây Ninh. Mặt mày đen đúa, rất nong tính nên người ta thường gọi là Trương Phi. Nhà nghèo, sớm vào đời để kiếm miếng cơm manh áo, nên Nguyễn Thành Hội dùng kỳ nghệ của mình làm kế sinh nhai bằng cách đánh dộ. Ông chu du khắp nơi trên đất nước, gặp gỡ nhiều cao thủ nên danh tiếng vang lừng.

Vào năm 1933, công ty Mỹ An tại Sài-gòn mở một cuộc tranh tài Cờ Tướng, lấy tên “Vô địch Nam Kỳ”. Nguyễn Thành Hội, lúc đó 28 tuổi, đã ghi danh và đánh bại quần hùng như chẻ tre. Vào chung kết ông gặp Nguyễn Văn Khảm, thắng vẻ vang, đoạt chức vô địch trong tiếng vỗ tay vang dội.

Dùng cờ như mục tiêu kiếm tiền, một mình nam chinh bắc tiến. Dù là chân trời góc biển, hễ nghe đến ai chơi Cờ giỏi, ông đều lặn lội tìm gặp, thách đấu để thử tài và cũng để kiếm sống qua ngày. Là người miền Nam, nhưng ông đã nhiều phen ra miền Trung, ba lần xông ra đất Bắc, từng gặp gỡ và giao đấu với nhiều người, như danh thủ Nguyễn Thi Hùng, vô địch miền Bắc Đặng Đình Yến v.v…

Nguyễn Thành Hội theo chủ trương thực dụng, dùng Cờ Tướng làm phương tiện mưu sinh, nên người ta thường nói ông “trọng tiền hơn trọng nghĩa”, hoặc “cầu lợi chẳng cầu danh”. Dầu vậy làng Cờ miền Nam vẫn tôn trọng kỳ nghệ,  gọi ông là Giáo Hội, mặc dù ông không phải là một nhà dạy học bao giờ.

Mùa đông năm 1956, người ta nhận được tin buồn: “Cựu vô địch cờ Tướng Nam Kỳ, sau một cơn bạo bệnh đã vĩnh viễn từ giã làng cờ, để lại bao thương tiếc cho mọi người”.

Cũng như nhiều tay cờ giang hồ khác, ông tranh giải thì ít mà cáp độ đánh cá thì nhiều vì vậy tư liệu sự nghiệp cờ của ông để lại rất ít. Ông có cùng đệ tử Thái Sanh Bính soạn quyển “Cờ Tướng Việt Nam” hướng dẫn chơi Pháo đầu phá Đơn đề Mã với phương án ăn Mã đội rất lý thú và hiệu quả. Đó là một đóng góp rất đáng trân trọng của một danh thủ tiền bối.


haquangbo
3- HÀ QUANG BỐ (1907-1949)
Hà Quang Bố thường được giới hâm mộ Cờ gọi là Giáo Bố. Tự nhận mình là hậu duệ của người Minh Hương. Sinh ra và lớn lên ở Rạch Giá, lập gia đình dời về sinh sống tại Cà Mau. Ông nội và cha đều là những tay chơi Cờ lão luyện. Khi Hà Quang Bố lên 10 đã được cha ông tận tình chỉ dạy kỳ nghệ. Đến năm 15 tuổi đã thành nhà vô địch trẻ tại huyện Long Mỹ, Rạch Giá.
Năm 1931, lúc 24 tuổi, xin được việc làm kinh lý cho khách sạn tại Sài-gòn. Và đây là khởi điểm cho một danh tiếng lẫy lừng. Ông mang theo một cơn bão nhỏ, thổi vào làng cờ thành phố. Đầu tiên ông đến điểm chơi Cờ ở ga xe lửa Saigon, khiêu khích và đánh bại cao thủ giang hồ Nguyễn Văn Lai. Kế tiếp làm kinh hồn những danh thủ ở Phú Nhuận, Đa-kao, Bình Tây, Xóm Củi. Nghe danh đại cao thủ người Hoa tại Cầu Kiệu là Trần Tựu oai nghi nhiều người nể phục, Hà Quang Bố tìm đến xin thử tài và đã làm cho Trần Tựu gục ngã. Tại đây ông gặp Nguyễn Văn Ngoan, kết nghĩa đệ huynh. Hai người thường rủ nhau đi khắp Nam Kỳ Lục Tỉnh tìm gặp nhiều cao thủ để thử tài. Nhờ đó mà kỳ nghệ và nội lực đạt đến tột đỉnh. Năm 1935, kiện tướng Trung quốc là Triệu Khôn sang Saigon làm mưa làm gió, không ai đối thủ, nhưng khi gặp Hà Quang Bố đả đành đại bại. Tiếng tăm giáo Bố từ đó lẫy lừng.
Một giai thoại xảy ra vào năm 1943. Sòng bạc Đại Thế Giới tổ chức một giải Cờ. Phần thưởng giải vô địch là một bức trường rất đẹp. Và giáo Hội (Nguyễn Thành Hội) đã chiếm giải. Khi giải thưởng mới vừa phát xong, trên tay giáo Hội còn cầm bức trướng, thì giáo Bố từ đâu đi tới, đề nghị một trận thư hùng danh dự với điều kiện: nếu giáo Hội thắng, giáo Bố sẽ chung 100 đồng bạc (bây giờ tương đương với khoảng 300 đô Úc). Cón nếu thua, thì giáo Hội phải đưa bức trướng cho giáo Bố giữ. Là người “trọng tiền tài hơn danh dự”, giáo Hội đồng ý ngay. Kết quả, sau hai ván, một thua và một hòa, giáo Hội mất bức trướng về tay Hà Quang Bố.
Năm 1948, Sài Gòn lại tổ chức giải “vô địch Nam kỳ” và Hà Quang Bố đã đoạt chức vô địch một cách xứng đáng.  Năm 1949, khi ông vẫn còn phụ trách kỳ đài thì bệnh lao trở nặng và không lâu sau đó một ngôi sao sáng của làng cờ miền Nam vụt tắt khi tuổi đời mới được 42.

4- HỨA VĂN HẢI (1918-1944)

hua-van-hai


Hứa Văn Hải sinh tại Sa-đéc, nay thuộc tỉnh Đồng Tháp. Là con của cụ Hứa Văn Nhiệm, có tổ tiên là người Phúc Kiến, gốc Chương Châu bên Trung quốc. Từ nhỏ, Hứa Văn Hải đã tỏ ra thông minh, có trí nhớ lạ kỳ. Năm 15 tuổi bắt đầu làm quen với Cờ cùng một người em là Hứa Văn Tài và một người bạn tên Tạ Khánh Toàn. Chỉ một năm sau, Hải đã đạt đến trình độ kiện tướng.
Lúc bấy giờ có một cao thủ từ Trung quốc sang Việt Nam. Trong một dịp may, Hứa Văn Hải được gặp. Lúc đó Hải chỉ mới 13-14 tuổi nhưng Triệu Khôn tỏ ra mến mộ một cậu bé có thiên tư, nên tận tình chỉ dạy. Hải đã biểu diễn nhiều chiêu thức thông minh, biến hóa, làm Triệu tiên sinh rất đẹp lòng và nhận Hải làm đệ tử, truyền cho nhiều bài học quí giá. Ngoài cơ may hiếm có nầy, Hải còn là người luôn chịu khó trau giồi, học hỏi qua sách báo, nên công lực càng ngày càng thâm hậu.
Vào dịp Tết Quí Mùi (1943) tại Gò Công có tổ chức “Giải Vô Địch Kỳ Vương” nhưng chỉ giành riêng cho bốn đại cao thủ gọi là “tứ hùng”: Nguyễn Văn Ngoan, Nguyễn Thành Hội, Hà Quang Bố và Hứa Văn Hải. Kỳ vương Hải đã xuất thần, áp đảo quần hùng, đoạt chức vô địch rất oanh liệt. Cũng vào năm đó, dịp tết Trung Thu, sòng bạc “Đại Thế giới” tổ chức giải vô địch Nam Kỳ. Hứa văn Hải tham dự, đã giành chức quán quân trong niềm cảm phục của mọi người.
Bên cạnh những dịp tranh tài chính thức, Hải thường ôm bàn cờ đi khắp nơi đánh độ, làm phương tiện sống qua ngày. Hào kiệt Nam Kỳ Lục Tỉnh đều ngưỡng mộ, tôn là bậc kỳ vương, dù tuổi đời của Hải còn rất trẻ. Và vì trình độ cờ quá cao, đánh với ai cũng phải chấp nước, chấp con, bởi đó cần phải lao tâm khổ trí để tìm cách thắng. Từ những trận cờ thâu đêm, thiếu ngủ, ăn uống thất thường, Hải mắc phải bệnh lao, không đủ điều kiện chạy chữa, càng ngày càng nặng. Cuối năm 1944, kỳ vương biết mình không qua khỏi cơn bệnh hiểm nghèo, đã trở về quê làng ở Tân Qui và an nghỉ giấc ngàn thu nơi đây ở tuổi đời 26, để lại bao thương tiếc cho làng cờ miền Nam.

5- PHẠM VĂN NGỌC (1916 – 1950)

pham-van-ngoc

Thủ lãnh nhóm Đồng Tâm
Danh kỳ Phạm Văn Ngọc sinh năm 1916 (tên thật là Phạm Ngọc Anh), thường được anh em gọi tên thân mật là “anh Tư Ngọc” xuất thân từ Gò-công. Ông là bào huynh của kỳ thủ Phạm Văn Sáng và là thân sinh của nhà cựu vô địch Sài-gòn là Phạm Tấn Hòa. Nhà nghèo, lại mồ côi cha, ông rời trường khi vừa học xong bậc tiểu học, ra đời tìm kiếm mưu sinh. Làm quen với Cờ lúc 14 tuổi, lại may mắn cùng quê và quen biết với danh kỳ Nguyễn Văn Ngoan, được chỉ dạy tận tình nên tài nghệ của ông tiến bộ vượt bực. Hai anh em của ông cùng nhau học hỏi, nghiên cứu thế trận, nên mức độ tiến triển rất nhanh.
Năm 1938, hai anh em rủ nhau lên Sài-gòn kiếm sống. Thuê căn nhà tại số 86 đường Hàm Nghi mở tiệm hớt tóc và bán nón nĩ, lấy tên là “Tiệm hớt tóc Đồng Tâm”. Đây là bước ngoặc trong sự nghiệp cờ tướng của Phạm Văn Ngọc. Để tạo hấp dẫn cho tiệm tóc, hai người thướng bày cờ tướng cho khách chơi trong lúc chờ đợi, từ đó nhiều tay cờ gần xa đến đây trổ tài, giải trí, càng lúc càng đông. Chẳng bao lâu “Đồng Tâm” nghiễm nhiên trở thành một “câu lạc bộ” Cờ Tướng nổi tiếng của đất Sài thành. Những danh thủ như Nguyễn Văn Ngoan, giáo Hội, giáo Bố, Hứa Văn hải đều thường xuyên xuất hiện. Và cũng nhờ có dịp tu luyện với nhiều tay cự phách mà trình độ Cờ của Phạm Văn Ngọc trở nên vượt trội. Vào tiết Trung thu 1943, sòng bạc Đại thế giới tổ chức giải vô địch Sài-gòn, Hứa Văn Hải giành chức quán quân, và Phạm Văn Ngọc đoạt giài Á quân. Làng cờ lúc bấy giờ rất khâm phục.
Khi cách mạng tháng 8 xảy ra, Phạm Văn Ngọc gia nhập phong trào Việt Minh và mất trong một trận giao tranh. Con của ông, Phạm Tấn Hòa, sau nầy cũng đã là một nhà vô địch!

6- PHẠM VĂN SÁNG (1918 – 1992)

Pham-van-Sang

Người đi Cờ nhanh như gió
Ông là bào đệ của danh thủ Phạm Văn Ngọc, và là thành viên sáng lập của câu lạc bộ “Đồng Tâm” hay còn gọi là nhóm Đồng Tâm. Hai anh em của ông kết thân với Thái Văn Hiệp tạo thành trụ cột của nhóm, nên ba cao thủ nầy được tôn vinh là “Đồng Tâm tam kiệt”. Giữa những năm1954, nhóm Đồng Tâm được xây dựng củng cố lại, ngoài năm Sáng, ba Hiệp còn có thêm các cao thủ Nguyễn Đình Lạc, Phạm Thanh Mai, Lê Văn Mầu và Trần Văn Kỳ, nhằm đối đầu trong nghệ thuật Cờ Tướng với nhóm Tinh Võ gồm Trần Dụ Tham, Trần Mỹ, Tất Kiên Dương, Lê Bỉnh và Kỳ Triển Bàng.
Anh của ông, Phạm Văn Ngọc, thiên về tấn công ào ạt như vũ bão, Thái Văn Hiêp thiên về phòng thủ chặt chẽ, còn phong cách của Phạm Văn Sáng rất linh hoạt, vừa công vừa thủ, mỗi nước đi luôn tỏ ra đầy sáng tạo. Ông rất thích nghiên cứu cờ thế, vì vậy hầu hết những ván cờ thế lưu truyền nổi tiếng, ông đều nắm rất vững các nước biến, đồng thời phát hiện nhiều chiêu thức mới.
Mùa xuân năm 1949, hội thể thao Tinh Võ ở Chợ Lớn tổ chức một giải Cờ lấy tên là “Giải vô địch Sài Gòn – Chợ Lớn”, Phạm Văn Sáng ghi tên tham dự và đã oanh liệt chiến thắng các cao thủ, đoạt lấy Cúp vàng danh dự. Chính ông là người có công nuôi dưỡng và dìu dắt Phạm Tấn Hòa nối tiếp truyền thống gia đình đi vào nghệ thuật cờ và đạt đến đỉnh vinh quang. Ông là người khiêm tốn, vui vẻ, hoạt bát nên mọi người trong làng cờ đều quý mến. Ông mất năm 1992, sau một cơn bạo bịnh, thọ 74 tuổi.
7- THÁI SANH BÍNH (1915 – 1972)

thai-anh-binh
Đại đệ tử của Giáo Hội
Danh thủ Thái Sanh Bính dù không có nhiều thành tích nổi danh, nhưng nhiều người biết tiếng vì ông có công đóng góp cho làng Cờ miền Nam trong giai đoạn đầu của sự phát triển.
Thái Sanh Bính thường được biết đến với tên thường gọi là Bảy Ngài. Xuất thân từ tỉnh Chợ Lớn cũ. Là một người có nhiều năng khiếu từ thuở nhỏ, nên những môn chơi như “Cầm, Kỳ, Thi, Họa” đều biết đến. Năm 20 tuổi, ông đã xưng hùng xưng bá tại huyện Cân Đước bằng tài nghệ Cờ Tướng của mình. Năm 1935, lúc 20 tuổi, ông đã có một trận thư hùng với nhà vô địch tại Tân An là danh thủ Nguyễn Văn Thành, và đã oanh liệt chiến thắng với tỉ số 1 thắng 1 hòa, gây tiếng vang lừng lẫy. Vào năm 1948, ở tuổi 33, danh tiếng lại vang dội khi ông đánh bại vô địch tỉnh Sa-đéc là kỳ thủ Tư Hy. Mùa Xuân năm 1949 Hội Tinh Võ tổ chức một giải Cờ lớn, Thái Sanh Bính hăng hái ghi danh tham dự. Vào giai đoạn đầu ông đã tạo thành tích hạ được cao thủ của tỉnh Gia-định là Nguyễn Đình Lạc, nhưng khi vào vòng trong, ở những ván có tính cách quyết định, ông lại bị cảm, cơ thể và tinh thần mệt mỏi, nên đành chịu thất bại.
Ông kết thân với một trong những đại danh thủ đương thời là Giáo Hội (Nguyễn Thành Hội). Từ năm 1950 đến khi Giáo Hội qua đời, tình bằng hữu giữa hai người rất gắn bó. Nhưng có một vết đen trong sự nghiệp Cờ của ông, là việc ông liên kết với nhà giáo Phạm Văn Khánh (người thường xuyên tổ chức những giải thi đấu) để sắp xếp kết quả có lợi cho riêng mình, nên mang nhiều tai tiếng.
Công trạng lớn nhất của danh kỳ Thái Sanh Bính, là cùng với Nguyễn Thành Hội hợp soạn quyển “Việt Nam Tượng Kỳ Phổ”, và cùng cao thủ Lý Anh Mậu xuất bản quyển “Cờ Tướng”, góp phần không nhỏ vào việc đưa làng Cờ miền Nam đến giai đoạn phát triển.
Người yêu Cờ Thái Sanh Bính mất năm 1972 sau một cơn tai biến mạch máu não, hưởng dương 58 tuổi.
8- THÁI VĂN HIỆP (1919 -?)

thai-van-hiep
Lấy thủ làm công, lấy thoái làm tiến
Danh kỳ Thái Văn Hiệp thường được gọi thân mật là “Thầy Ba Hiệp”, vì ông nhận rất nhiều đệ tử để truyền nghề. Quê quán có lẽ từ Gò Vấp, Gia-định. Khi cửa hiệu hớt tóc Đồng tâm của anh em kỳ thủ Phạm Văn Ngọc và Phạm Văn Sáng mở ra, thì Thái Văn Hiệp thường lui tới đánh Cờ. Lâu ngày họ thành bạn thân và có lần Thầy Ba Hiệp đưa vợ con đến câu lạc bộ nầy tá túc. Và từ đó ông cùng với anh em họ Phạm trở thành nòng cốt của Nhóm Đồng Tâm.
Là một người rất say mê học hỏi từ sách vở Cờ tướng, dần dà hình thành một lý thuyết ra quân mà ông luôn tuân thủ. Ông tu luyện từ những pho sách cổ, như Ma Hoa Phỏ, Quất Trung Bí, Thạch Dương Di Cục và nghiên cứu những cách xuất quân của những kỳ thủ trong nhóm “tứ đại thiên vương” gồm có Châu Đức Dụ, Chung Trân và Tạ Hiệp Tốn. Từ khi ông có trong tay quyển kỳ phổ “Tượng Hí Câu Huyền” của Châu Đức Dụ biên soạn, ngày đêm nghiền ngẫm rất tâm đắc, công lực tiến triễn rất nhiều, có thể liệt vào hàng các danh thủ đầu đàn của làng Cờ miền Nam.
Từ cuối thập niên 1960, do tuổi cao, mà cũng có thể vì trình độ Cờ tướng thế giới đang chuyển mình vượt bực, sức Cờ của ông bắt đầu sa sút. Những thế trận mà ông dày công tu luyện không còn sắc bén nữa, lớp người trẻ ào ạt tiến lên, uy hiếp trực tiếp vào vị trí đầu đàn của ông. Nhưng dầu vậy trước sau làng Cờ Sài-gòn vẫn luôn kính trọng và đánh giá cao sự nghiệp đóng góp của ông. Những danh thủ đương đại như Nguyễn Văn Tòng, Mạch Hữu Nghĩa, Trần Ngọc Lâu, Mai Thanh Minh và nhiều người nữa luôn tự nhận mình là đệ tử của “Thầy Ba Hiệp”!
9- NGUYỄN ĐÌNH LẠC (1925 – 1959)


nguyen-dinh-lac

Một tay Cờ tài tử
Danh thủ Nguyễn Đình Lạc nguyên quán thị xã Tân An, nhưng lớn lên và nổi danh tại Bà Chiểu (thuộc tỉnh Gia-định). Ông là một tú tài trước năm 1945, làm nhân viên kế toán cho một công ty thương mại. Là người rất bận rộn với công việc làm ăn, Nguyễn Đình Lạc vẫn luôn yêu mến và giành nhiều thời gian cho việc nghiện cứu Cờ. Thuở còn là học sinh, thường xuất hiện trong chốn giang hồ, bất cứ ai khiêu khích, ông đều sẵn sàng ứng chiến và thường là người chiến thắng. Các danh thủ đàn anh như Phạm Văn Sáng, Thái Văn Hiệp cảm mến kỳ nghệ, mời Nguyễn Đình Lạc tham gia nhóm Đồng Tâm. Từ đó ông thường lui tới với anh em trong nhóm, học tập, trao đổi kinh nghiệm, trình độ Cờ trở nên sâu sắc, công lực ngày càng thâm hậu.
Ban đầu Nguyễn Đình Lạc theo quan điểm “dĩ nhu thắng cương”, chuyên về thế thủ, nên những trận Cờ kéo dài rất lâu. Nhưng về sau, ông học với “Thầy Năm Sáng”, chịu ảnh hưởng tấn công, dùng Pháo Đầu làm vũ khí chiến lược, những ván Cờ trở nên linh hoạt, kết thúc nhanh và nhiều hứng thú. Năm 1951, ông tham dự Giải Cờ do hãng rượu Martell tổ chức và giành chức quán quân. Từ đó, ông luôn tìm kiếm những danh thủ để “lãnh giáo”. Bất cứ đánh với ai, ông cũng tỏ ra là người đảm lược, thường chiếm thế thượng phong.
Tuy nhiên, tựu trung Nguyễn Đình Lạc luôn được xem là tay Cờ tài tử. Xem Cờ như một thú giải trí tao nhã, một nghệ thuật cao quý, đáng đam mê, không phải là phương tiện kiếm sống. Làng Cờ ai cũng tỏ ra quí trọng vì tính ông hòa nhã, điềm đạm, nói năng từ tốn, không làm mất lòng ai. Đặc biệt rất chân tình với anh em. Ai hỏi điều gì cũng hết lòng chỉ bảo, không dấu giếm, nên gần gủi với mọi người.
Năm 1954, vừa mới 29 tuổi, ông có dấu hiệu bệnh lao, buộc phải ngưng đeo đuổi việc chơi Cờ. Vì thế công lực nhiều phần giảm sút. Mùa Thu 1958, sau cuộc đấu giao hữu với kỳ vương Lý Chí Hải, về nhà bệnh càng trầm trọng. Và chỉ một năm sau, ông lặng lẽ giã từ anh em, khi tuổi đời chỉ vừa 34. Thật là một mất mát quá sớm.


ly-anh-mau
10- LÝ ANH MẬU (1926 – 1977)
Bạn của nàng tiên nâu
Lý Anh Mậu là em ruột của nhà văn nổi tiếng Lý Văn Sâm. Xuất thân từ huyện Tân Uyên, thuộc tỉnh Biên Hòa. Thuở còn là thanh niên ông đã được nổi danh là “nhà vô địch Biên Hòa”, và thường được anh em gọi tên thân mật “Lý Anh Mô”. Sau năm 30 tuổi, ông dời về sinh sống tại Bà Chiểu thuộc tỉnh Gia-định, nên thường được xem là cao thủ thành Gia-định.
Ngày xưa nhà thuốc Võ Văn Vân thường in trong tập quảng cáo những ván Cờ dịch từ sách Quất Trung Bí và Mai Hoa Phổ để làm chiêu câu khách. Và cậu bé Lý Anh Mậu đã theo dõi, học tập từ những trang nầy, sớm lãnh hội những tinh hoa của kỳ nghệ, nhanh chóng trở thành một trang thiếu niên cao cờ. Đến nỗi khắp đất Biên Hòa không ai đương cự nổi. Đầu năm 1944, lúc 18 tuổi, bầu nhiệt huyết của tuổi thanh xuân đã đưa Lý Anh Mậu xuống Sài-gòn tìm gặp Hứa Văn Hải để thử tài. Hải rất mến mộ tài năng, đem nhiều tài liệu từ lâu mà mình yêu quí, giao cho Mậu với lòng mong muốn Mậu sẽ trở thành một kỳ thủ thống lãnh làng Cờ. Đây là một việc làm của Hứa Văn Hải mà ai ai cũng kinh ngạc, vì chưa bao giờ Hải làm cho một người nào.
Năm 1948, Lý Anh Mậu tham dự đánh lôi đài ở sòng bạc Đại Thế Giới và được Hà Quang Bố dạy cho nhiều bài học quí báu. Từ đó giáo Bố rất thương mến, thâu nhận Mậu làm đệ tử, tận tình chỉ dạy. Trước khi qua đời Giáo Bố đã giới thiệu Lý Anh Mậu thay mình làm đài chủ, thủ đài cho sòng bạc Đại Thế Giới mãi đến năm 1954 mới thôi. Trong 5 năm thủ đài đó, Lý Anh Mậu đã rút tỉa nhiều kinh nghiệm, đúc kết nhiều bài học và hình thành quan điểm xem Cờ là một nghệ thuật cao quí, đòi hỏi người chơi một nhân sinh quan tốt đẹp, chiến thắng đối phương là do kỳ nghệ, chứ không phải bằng thủ đoạn tầm thường. Ông đã cố gắng đưa lý luận vào Cờ, mà ông gọi là “kỳ lý”.
Đáng tiếc, khi được Đại Thế Giới trả lương hậu hĩnh, ông đã sa vào nàng tiên nâu. Á phiện đã làm hư con người, nhiều lần ông đã đi giang hồ kiếm sống và dùng mọc-phin chích cho thỏa cơn ghiền. Cả cuộc đời giành cho Cờ và nàng tiên nâu, không lập gia đình, không con cái. Ông mất vào cuối năm 1978 sau một cơn tai biến mạch máu não, hương dương 53 tuổi. “Bàn Cờ Nhỏ” ông đã thành toại mà “Bàn Cờ Lớn” của cuộc đời ông đã đánh rơi!
Lý Anh Mậu nhận nhiều học trò, nhưng đóng góp lớn nhất cho hậu thế là hơn 10 quyển sách mà ông đã biên soạn nhằm phát huy nghệ thuật của một môn chơi trí tuệ.

Thứ Năm, 26 tháng 3, 2009

Lịch sử Giải đấu Ngũ Dương Bôi

Sang đến cuối tuần sau (từ ngày 21/2-26/2),tại thành phố Quảng Châu tỉnh Quảng Đông,giải đấu cờ tướng cao cấp thường niên của Trung Quốc là giải Ngũ Dương Bôi lần thứ 29 sẽ bắt đầu được khởi tranh.Đây là 1 giải đấu lớn,quy tụ gần như đầy đủ tất cả những nhà quán quân cờ tướng đương đại của Trung Quốc.Ngũ Dương Bôi thường được diễn ra vào thời điểm đầu năm và rất được giới hâm mộ cờ Trung Quốc chờ đợi và dõi theo.Nếu tính ra,Ngũ Dương Bôi 2009 chưa phải là giải đấu lớn đầu tiên của kỳ đàn Trung Quốc trong năm này,trước đó từ ngày 16/2 cho đến hết ngày 20/2 sẽ là giải vô địch cờ tướng các tỉnh phía tây Trung Quốc lần thứ 2 tranh cúp Tây Liên Bôi 2009.Tuy nhiên với tầm vóc ý nghĩa lịch sử lâu đời của mình trên kỳ đàn Trung Quốc thì Ngũ Dương Bôi luôn được đánh giá rất cao và là giải đấu đáng xem nhất trong thời gian tới đây.Để mọi người trong Forum dễ theo dõi và nắm bắt hơn về giải,em xin được giới thiệu sơ qua về lịch sử của giải đấu này thông qua danh sách những kỳ thủ từng tham gia và Bảng vàng Tam khôi của Ngũ Dương Bôi từ khi nó được bắt đầu vào tháng 1 năm 1981 cho đến nay.laugh.gif


A)Có những ai đã từng tham gia ?:

-Tư cách tham dự:Từng là quán quân cờ tướng toàn Trung Quốc hoặc là khách mời danh dự của BTC.

1)Dương Quan Lân:

-Đơn vị:Quảng Đông
-Vô địch Trung Quốc:1956,1957,1959,1962
-Tham gia Ngũ Dương Bôi:4 lần
-Thành tích cao nhất:Hạng 3 các giải Ngũ Dương Bôi lần thứ 1,2,3,4

2)Hồ Vinh Hoa:

-Đơn vị:Thượng Hải
-Vô địch Trung Quốc:1960,1962,1964,1965,1966,1974,1975,1977,1978,1979,1983,1985,1997,2000
-Tham gia Ngũ Dương Bôi:24 lần
-Thành tích cao nhất:Vô địch các giải Ngũ Dương Bôi lần thứ 2,5,6,7,8,17

2)Liễu Đại Hoa:

-Đơn vị:Hồ Bắc
-Vô địch Trung Quốc:1980,1981
-Tham gia Ngũ Dương Bôi:28 lần
-Thành tích cao nhất:Vô địch các giải Ngũ Dương Bôi lần thứ 1,3
Posted by: Internazionale Feb 15 2009, 03:25 AM

4)Lý Lai Quần:

-Đơn vị:Hà Bắc
-Vô địch Trung Quốc:1982,1984,1987,1991
-Tham gia Ngũ Dương Bôi:14 lần
-Thành tích cao nhất:Vô địch các giải Ngũ Dương Bôi lần thứ 4

5)Lữ Khâm:

-Đơn vị:Quảng Đông
-Vô địch Trung Quốc:1986,1988,1999,2003,2004
-Tham gia Ngũ Dương Bôi:24 lần
-Thành tích cao nhất:Vô địch các giải Ngũ Dương Bôi lần thứ 9,10,11,12,13,16,20,21,22,24

6)Từ Thiên Hồng:

-Đơn vị:Giang Tô
-Vô địch Trung Quốc:1989
-Tham gia Ngũ Dương Bôi:19 lần
-Thành tích cao nhất:Hạng 2 giải Ngũ Dương Bôi lần thứ 16

7)Triệu Quốc Vinh:

-Đơn vị:Hắc Long Giang
-Vô địch Trung Quốc:1990,1992,1995,2008
-Tham gia Ngũ Dương Bôi:14 lần
-Thành tích cao nhất:Vô địch giải Ngũ Dương Bôi lần thứ 19
Posted by: Internazionale Feb 15 2009, 03:37 AM

8)Hứa Ngân Xuyên:

-Đơn vị:Quảng Đông
-Vô địch Trung Quốc:1993,1996,1998,2001,2006
-Tham gia Ngũ Dương Bôi:14 lần
-Thành tích cao nhất:Vô địch các giải Ngũ Dương Bôi lần thứ 14,15,18,23,25,27,28

9)Đào Hán Minh:

-Đơn vị:Hắc Long Giang
-Vô địch Trung Quốc:1994
-Tham gia Ngũ Dương Bôi:14 lần
-Thành tích cao nhất:Hạng 2 các giải Ngũ Dương Bôi lần thứ 21,28

10)Vu Ấu Hoa:

-Đơn vị:Chiết Giang
-Vô địch Trung Quốc:2002
-Tham gia Ngũ Dương Bôi:7 lần
-Thành tích cao nhất:Hạng 2 giải Ngũ Dương Bôi lần thứ 23

11)Hồng Trí:

-Đơn vị:Hồ Bắc
-Vô địch Trung Quốc:2005
-Tham gia Ngũ Dương Bôi:4 lần
-Thành tích cao nhất:Vô địch giải Ngũ Dương Bôi lần thứ 26

12)Triệu Hâm Hâm:

-Đơn vị:Chiết Giang
-Vô địch Trung Quốc:2007
-Tham gia Ngũ Dương Bôi:1 lần
-Thành tích cao nhất:Hạng 3 giải Ngũ Dương Bôi lần thứ 28

13)Lưu Điện Trung:

-Đơn vị:Hà Bắc
-Tư cách tham dự:Khách mời
-Tham gia Ngũ Dương Bôi:2 lần
-Thành tích cao nhất:Hạng 2 giải Ngũ Dương Bôi lần thứ 25

14)Tôn Dũng Chinh:

-Đơn vị:Thượng Hải
-Tư cách tham dự:Khách mời
-Tham gia Ngũ Dương Bôi:1 lần

15)Vương Bân:

-Đơn vị:Giang Tô
-Tư cách tham dự:Khách mời
-Tham gia Ngũ Dương Bôi:2 lần
-Thành tích cao nhất:Hạng 3 giải Ngũ Dương Bôi lần thứ 23

16)Uông Dương:

-Đơn vị:Hồ Bắc
-Tư cách tham dự:Khách mời
-Tham gia Ngũ Dương Bôi:2 lần
-Thành tích cao nhất:Hạng 4 giải Ngũ Dương Bôi lần thứ 26

17)Vạn Xuân Lâm:

-Đơn vị:Thượng Hải
-Tư cách tham dự:Khách mời
-Tham gia Ngũ Dương Bôi:1 lần

18)Tưởng Xuyên:

-Đơn vị:Bắc Kinh
-Tư cách tham dự:Khách mời
-Tham gia Ngũ Dương Bôi:2 lần

19)Triệu Nhữ Quyền:


-Đơn vị:Hồng Kông
-Tư cách tham dự:Khách mời
-Tham gia Ngũ Dương Bôi:2 lần

20)Lý Cẩm Hoan:

-Đơn vị:Ma Cao
-Tư cách tham dự:Khách mời
-Tham gia Ngũ Dương Bôi:2 lần


Bảng vàng Tam Khôi của giải đấu Ngũ Dương Bôi:

-Lần thứ 1(tháng 1 năm 1981): 1.Liễu Đại Hoa 2.Hồ Vinh Hoa 3.Dương Quan Lân

-Lần thứ 2(tháng 12 năm 1981): 1.Hồ Vinh Hoa 2.Liễu Đại Hoa 3.Dương Quan Lân

-Lần thứ 3(tháng 1 năm 1983): 1.Liễu Đại Hoa 2.Hồ Vinh Hoa 3.Dương Quan Lân

-Lần thứ 4(tháng 1 năm 1984): 1.Lý Lai Quần 2.Hồ Vinh Hoa 3.Dương Quan Lân

-Lần thứ 5(tháng 1 năm 1985): 1.Hồ Vinh Hoa 2.Lữ Khâm 3.Lý Lai Quần

-Lần thứ 6(tháng 12 năm 1986): 1.Hồ Vinh Hoa 2.Lý Lai Quần 3.Lữ Khâm

-Lần thứ 7(tháng 12 năm 1986): 1.Hồ Vinh Hoa 2.Lữ Khâm 3.Lý Lai Quần

-Lần thứ 8(tháng 1 năm 1988): 1.Hồ Vinh Hoa 2.Lữ Khâm 3.Lý Lai Quần

-Lần thứ 9(tháng 1 năm 1989): 1.Lữ Khâm 2.Hồ Vinh Hoa 3.Lý Lai Quân

-Lần thứ 10(tháng 1 năm 1990): 1.Lữ Khâm 2.Lý Lai Quần 3.Liễu Đại Hoa

-Lần thứ 11(tháng 1 năm 1991): 1.Lữ Khâm 2.Hồ Vinh Hoa 3.Liễu Đại Hoa

-Lần thứ 12(tháng 1 năm 1992): 1.Lữ Khâm 2.Liễu Đại Hoa 3.Từ Thiên Hồng

-Lần thứ 13(tháng 12 năm 1992): 1.Lữ Khâm 2.Hồ Vinh Hoa 3.Từ Thiên Hồng

-Lần thứ 14(tháng 12 năm 1993): 1.Hứa Ngân Xuyên 2.Lữ Khâm 3.Từ Thiên Hồng

-Lần thứ 15(tháng 1 năm 1995): 1.Hứa Ngân Xuyên 2.Lữ Khâm 3.Từ Thiên Hồng

-Lần thứ 16(tháng 12 năm 1995): 1.Lữ Khâm 2.Hồ Vinh Hoa-Từ Thiên Hồng 3.Đào Hán Minh

-Lần thứ 17(tháng 12 năm 1996): 1.Hồ Vinh Hoa 2.Liễu Đại Hoa 3.Lữ Khâm

-Lần thứ 18(tháng 1 năm 1998): 1.Hứa Ngân Xuyên 2.Lữ Khâm 3.Liễu Đại Hoa

-Lần thứ 19(tháng 1 năm 1999): 1.Triệu Quốc Vinh 2.Hồ Vinh Hoa 3.Đào Hán Minh

-Lần thứ 20(tháng 12 năm 1999): 1.Lữ Khâm 2.Hồ Vinh Hoa 3.Triệu Quốc Vinh-Hứa Ngân Xuyên

-Lần thứ 21(tháng 1 năm 2001): 1.Lữ Khâm 2.Đào Hán Minh 3.Liễu Đại Hoa

-Lần thứ 22(tháng 12 năm 2001): 1.Lữ Khâm 2.Hồ Vinh Hoa 3.Hứa Ngân Xuyên

-Lần thứ 23(tháng 12 năm 2002): 1.Hứa Ngân Xuyên 2.Vu Ấu Hoa 3.Vương Bân

-Lần thứ 24(tháng 12 năm 2003): 1.Lữ Khâm 2.Hứa Ngân Xuyên 3.Hồ Vinh Hoa

-Lần thứ 25(tháng 1 năm 2005): 1.Hứa Ngân Xuyên 2.Lưu Điện Trung 3.Hồng Trí

-Lần thứ 26(tháng 12 năm 2005): 1.Hồng Trí 2.Hứa Ngân Xuyên 3.Triệu Quốc Vinh

-Lần thứ 27(tháng 12 năm 2006): 1.Hứa Ngân Xuyên 2.Triệu Quốc Vinh 3.Hồng Trí

-Lần thứ 28(tháng 12 năm 2007): 1.Hứa Ngân Xuyên 2.Đào Hán Minh 3.Triệu Hâm Hâm
Nguồn: Internazionale- http://forums.xiangqiclub.com/